Thứ Tư, 1 tháng 1, 2025

Những kẻ bán nước, phản bội Tổ quốc đều là giặc

Các đối tượng ở nước ngoài là tàn dư của VNCH cũ hay ra rả những luận điệu cũ rích ca ngợi cái gọi là “anh hùng tử khí hùng bất tử” khi nói về những tướng lĩnh của ngụy quân Sài Gòn đã tự sát, trước trong và sau ngày 30/4/1975, đừng ca ngợi họ là “tuẫn tiết vì nước”.

Tuẫn tiết ư? Những người hùng của dân tộc Việt Nam là Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu thủ thành, thành mất tướng cũng tuẫn tiết theo thành, chết là để sống mãi với non sông đất nước, thế mới gọi là tuẫn tiết vì nước. Còn những tướng ngụy kia họ đại diện cho ai, lý tưởng là gì thì đến chính họ còn không hiểu, đừng vấy bẩn lên hai từ thiêng liêng “tuẫn tiết”.

Một số tướng lãnh đạo VNCH như: Phạm Văn Phú, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ đã tự sát, họ tự sát là vì nỗi ô nhục khi đang tâm, tình nguyện làm nô bộc cho Hoa Kỳ; giúp cho người Mỹ mưu đồ biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới. Không đau, không nhục sao được khi mà bản thân lại phò trợ ngoại bang để thôn tính chính quê cha đất tổ của mình, chỉ vì hám danh hám lợi. Cũng có thể, họ sợ đồng bào sẽ trả thù vì những tội ác mà họ gây ra cho đồng bào hoặc đó chỉ là hậu quả của việc người Mỹ tuyên truyền về cái gọi là “cộng sản sẽ tắm máu nếu chiếm được Sài Gòn”. Chết vì nhục, vì sợ chứ đâu phải gọi là tuẫn tiết! Các ngươi thôi ca ngợi “quân lực VNCH” với khẩu hiệu “tổ quốc, danh dự, trách nhiệm”! Tổ quốc ở đâu khi các người rước Hoa Kỳ và đồng minh vào để băm vằm, cày xới lên cơ thể của đất nước? Tổ quốc có thể hiểu là đất nước do tổ tiên từ bao đời đã lấy máu đào để bảo vệ, xây dựng và để lại cho con cháu, truyền từ đời này sang đời khác; các người hết làm ưng khuyển cho Pháp, lại làm đầy tớ của Mỹ, muốn chia đôi, xẻ thịt giang sơn mà tổ tiên để lại thì thử hỏi tổ quốc ở đâu trong trường hợp này?

Tướng WestMoreland của quân đội Hoa kỳ từng nói với các người:

- Thay mặt quân đội Hoa Kỳ tôi xin lỗi các bạn cựu quân lực Miền Nam Việt Nam…vì chúng tôi đã “bỏ rơi” các bạn

- Còn tại sao “bỏ rơi” thì đó là việc của chính quyền và Tổng thống Mỹ!

- Còn lý do “bỏ rơi” thì khỏi cần nói tôi và các bạn đều biết!

- Bởi thế các bạn nên tự nhìn nhận lại các bạn chỉ là con khỉ già trong mắt của chúng tôi (người Mỹ)!

- Chúng tôi (người Mỹ) là người chủ chiến với Cộng sản Việt Nam, các bạn chỉ là những kẻ được chúng tôi tuyển mộ và dựng lên để chống lại đồng loại của các bạn, chúng tôi không thù họ thì tại sao các bạn lại thù họ (Cộng sản Việt Nam)? Phải chăng các bạn là con khỉ đột lai giống người mà nước Mỹ chúng tôi tạo ra?  

Trách nhiệm, “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, nghĩa là đất nước khi thịnh vượng cũng như lúc suy vong thì mỗi người đều có trách nhiệm để xây dựng và bảo vệ, các người bán đứng tổ quốc không chỉ một, hai mà đến ba lần (Pháp, Nhật, Mỹ), là gia nô ba họ của ngoại bang thì đào đâu ra cái gọi là trách nhiệm với đất nước. Trách nhiệm với tổ quốc là phải như những người cộng sản, họ quyết tử cho tổ quốc quyết sinh và bây giờ đang xây dựng một Việt Nam ngày càng giàu mạnh, cơm ngon, áo đẹp.

Các người thôi kêu gào là “lấy lại đất tổ, không làm khổ dân” nào là “phục quốc”! Nước Việt Nam anh hùng và đời đời văn hiến vẫn đang thuộc quyền làm chủ của cháu Hồng, con Lạc, có mất cho Tây, cho tàu đâu mà “phục quốc” mà kêu gào “lấy lại đất tổ”. Câu đó phải để những người cộng sản nói, không có cộng sản thì lấy ai đánh Pháp, đuổi Mỹ để lấy lại đất tổ trong tay ngoại bang, không có cộng sản Việt Nam thì lấy ai giữ vững chủ quyền khi mà các ngươi đã từng hiến miền Nam Việt Nam cho Mỹ, làm mất rất nhiều đảo ở Trường Sa, vùng biển phía Nam vào tay một số nước Đông nam á và mất cả quần đảo Hoàng Sa 1974; những đảo đó, nếu lấy lại được thì chắc chắn cũng chỉ có những người cộng sản Việt Nam mới đủ tư cách và trí tuệ, hào khí để lấy lại trong tương lai.

Từ tháng 7 năm 1955, Đảng và Nhà nước ta quyết định đổi “Ngày Thương binh toàn quốc” thành “Ngày Thương binh Liệt sĩ” để ghi nhận những hy sinh lớn lao của đồng bào, chiến sĩ cả nước cho chiến thắng vẻ vang của toàn dân tộc. Ngày 08/7/1975 Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị 223/CT-TW năm 1975, theo đó lấy ngày 27/7 hằng năm chính thức trở thành Ngày Thương binh Liệt sĩ của cả nước.

Những kẻ 50 năm quan vẫn chống phá quê hương đất nước, vẫn hận thù, hằn học với sự phát triển của đất nước mới là những kẻ bán nước, phản bội Tổ quốc. Dân tộc Việt Nam đoàn kết dưới ánh sáng của ngọn đuốc vĩnh cửu do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, soi đường; đồng bào ta vẫn luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh./.

8 cái kết bi thảm của những kẻ phản quốc trong lịch sử Việt Nam

 Trong trang sử hào hùng của dân tộc ta, bên cạnh những tấm gương xả thân hy sinh vì đại nghĩa giữ nước, làm rạng rỡ hào khí dân tộc, chúng ta vẫn không quên vết ô nhơ của những kẻ mãi quốc cầu vinh, vì mưu lợi riêng, tham công danh phú quý hay đơn thuần chỉ là nghe lời dụ dỗ của giặc, nhắm mắt trước thị phi, mà chấp nhận làm kẻ phản quốc, đi ngược lại quyền lợi quốc gia.

1. Giặc ở sau lưng

Một truyện cổ khá kinh điển trong sử Việt là sự kiện Triệu Đà chiếm Âu Lạc. Nguyên nhân của việc này là do Mỵ Châu vì chút tình riêng, mê muội đã quá tin lời tình nhân nội gián của nàng mà quên đi sự an nguy của quốc gia như việc nàng cho Trọng Thủy xem “bảo vật trấn quốc” là nỏ thần.

img

Thục Phán đoạn tình riêng, giết con đền nợ nước.

Và khi theo cha bỏ chạy khỏi quân thù, nàng cũng vì luyến tiếc chút tình riêng nhỏ nhoi ấy mà rải lông ngỗng để Trọng Thủy tìm đường theo nàng. Khốn thay, giặc cũng theo sau. Và cái chết của nàng dưới lưỡi gươm cha tuy thật đau lòng nhưng việc nàng làm khiến dân ta rơi vào vòng Bắc thuộc tăm tối thì khó tha thứ, như thần Kim Quy đã chỉ tội “Giặc ở sau lưng vua đấy”

Thế mới hay, không gì nguy hại bằng giặc trong nhà, giặc sau lưng. Một công chúa liễu yếu đào tơ như Mỵ Châu trong phút sai lầm đã làm chao đảo Loa Thành. Cái dũng khí đoạn tình riêng của Thục Phán, giết con đền nợ nước cũng đã muộn màng. Quả thật, thiên binh vạn mã Nguyên Mông từ ngoài ta còn đánh bại, vậy mà họa mất nước từ trong e thật khó biết bao.

2. Phản thần Đỗ Thích

Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân và lên ngôi lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt và được xem là hoàng đế đầu tiên của Việt Nam sau 1000 năm Bắc thuộc. Nhà vua rất sủng ái một hoạn quan tên là Đỗ Thích, giữ chức Chi Hậu Nội Nhân. Nhờ có công cõng vua Đinh trốn chạy khi bị Nam Tấn Vương truy đuổi, hắn được lòng vua và theo về triều, ngày càng củng cố địa vị.

Vua Đinh Tiên Hoàng phế trưởng lập thứ, chọn con út là Hạng Lang làm Thái Tử để kế vị. Việc này làm con trưởng là Đinh Liễn oán giận. Đầu năm 979, Đinh Liễn sai người giết Hạng Lang để tranh quyền đoạt vị. Tuy nhiên, vua Đinh không trừng phạt tội ác của Đinh Liễn mà vẫn chấp nhận Đinh Liễn lên làm Thái Tử, từ đó gây rối ren trong triều chính.

Lại nói về Đỗ Thích, một hôm, y nằm mơ thấy ngôi sao băng rơi vào miệng, có kẻ giải mộng đó là điềm báo hắn sẽ trở thành vua. Quá đỗi vui mừng và tin vào giấc mộng huyễn hoặc ấy, Đỗ Thích mưu toan giết vua và Thái Tử để đoạt ngôi. Sau một buổi yến tiệc trong cung đình, Đỗ Thích đã thực hiện âm mưu của mình bằng cách bỏ thuốc độc vào món canh tẩm bổ, giã rượu cho Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn. Nhà vua và thái tử ngấm phải chất kịch độc đã băng hà ngay sau đó.

Nhưng giấc mộng bá vương của tên hoạn quan thích mộng tưởng những chuyện hoang đường họ Đỗ chưa kịp nhen nhúm cơ may trở thành hiện thực thì hắn đã bị Đinh Quốc Công Nguyễn Bặc tóm gọn. Và hắn phải nhận lấy sự trừng phạt một cách tàn khốc, Nguyễn Bặc sai quân chém đầu rồi sai đập tan xương và cắt thịt ném cho thú dữ.

3. Trần Di Ái – Âm mưu bất thành đành chịu nhục

Trong cuộc kháng chiến 3 lần đánh tan quân xâm lược Nguyên Mông, những danh tướng đời Trần đã tạo nên một cơn địa chấn mà sử sách gọi là “Hào Khí Đông A”. Tuy nhiên, vẫn có những quý tộc nhà Trần bắt tay với giặc, phản quốc. Trần Di Ái là một trong số đó.

Năm 1281, hoàng đế nhà Nguyên đòi vua Trần Nhân Tông phải sang chầu, vua Trần lấy cớ khước từ không sang, hoàng đế Nguyên gửi thư nói: “Nếu vua nước Nam không sang chầu được thì phải đưa vàng ngọc sang thay, và phải nộp hiền sĩ, thầy âm dương bói toán, thợ khéo mỗi hạng 2 người “. Thượng hoàng Trần Thánh Tông liền đưa chú của mình là Trần Di Ái cùng Lê Tuân và Lê Mục sang thay.

Nhà Nguyên không bằng lòng, muốn lập ngay bộ máy cai trị Đại Việt, bèn xuống chỉ lập tòa Tuyên phủ ti, đặt quan liêu thuộc để sang giám trị các châu huyện. Thế nhưng khi quan nhà Nguyên đến nơi, nhà Trần không chấp nhận và đuổi về. Vua nhà Nguyên tức tối, bèn phong Trần Di Ái làm An Nam quốc vương, phong cho Lê Mục làm Hàn lâm học sĩ, Lê Tuân làm Thượng thư rồi đưa về nước cùng lá thư cho vua Trần: “Ngươi cáo bệnh không vào chầu, nay cho người được nghỉ để thuốc thang điều dưỡng. Ta lập chú ngươi là Di Ái thay ngươi làm quốc vương An Nam cai quản dân chúng”

Trần Di Ái cũng mừng thầm, hy vọng dựa vào sức mạnh của quân Nguyên thì mình sẽ được làm vua, còn nếu không được thì sẽ viện lý do bị ép. Hoàng đế Nguyên là Hốt Tất Liệt sai Bột Nham Thiết Mộc Nhi cùng Sài Thung đưa 1.000 quân cùng Trần Di Ái về nước. Khi Trần Di Ái đến ải Nam Quan, Vua Trần Nhân Tông sai tướng đón đánh đội quân này, quân Nguyên bị đánh tan, Sài Thung bị trúng tên mù một mắt. Trần Di Ái bị bắt sống đưa về triều, được tha tội chết nhưng phải làm lính hầu ở phủ Thiên Trường, suốt đời không dám ngẩng mặt lên nhìn ai.

4. Trần Kiện – Cam tâm làm tay sai

Là cháu nội của vua Trần Thái Tông. Năm 1285, nhà Nguyên đem quân xâm lược Đại Việt lần thứ hai. Phía Bắc Thoát Hoan cùng A Lý Hải Nha thống lĩnh 50 vạn đại quân tiến sang. Lúc này cánh quân 20 vạn của Toa Đô bị sa lầy ở Chiêm Thành được lệnh từ phía Nam tiến đánh vùng Thanh Hóa – Nghệ An. Tháng Giêng năm 1285, Trấn thủ Thanh Hóa là Trần Kiện (con Trần Quốc Khang, cháu nội vua Trần Thái Tông) đem toàn gia quyến đầu hàng.

Trần Kiện cũng chỉ điểm cho quân Nguyên khiến quân Đại Việt nhiều trận bị thiệt hại. Trần Kiện đầu hàng khiến phía Nam bị bỏ ngỏ, Trần Quang Khải được lệnh thống lĩnh quân đến phía Nam chặn Toa Đô.

Tháng 4 năm 1285, Thoát Hoan sai quân hộ tống Trần Kiện cùng các tôn thất nhà Trần đã đầu hàng về Bắc diện kiến hoàng đế Nguyên là Hốt Tất Liệt. Thế nhưng đến ải Chi Lăng, toán quân này bị quân Đại Việt phục kích vây đánh. Trần Kiện phá vòng vây chạy lên phía trước lại bị toán dân quân đón đánh. Gia tướng của Hưng Đạo Vương là Nguyễn Địa Lô dùng tên bắn chết Trần Kiện trên lưng ngựa. Liêu thuộc của Trần Kiện là Lê Tắc cướp được xác chủ, cột lên ngựa, nhân đêm tối lẻn chạy về Khâu Ôn và chôn Trần Kiện ở đấy. Một cái kết thích đáng cho kẻ tay sai, đê hèn.

5. Trần Văn Lộng – Nối giáo cho giặc

Là cháu của Thái sư Trần Thủ Độ, được cử làm tướng trấn giữ vùng Tam Đái. Năm 1284 quân Nguyên tiến đánh, Văn Lộng đem cả gia quyến ra đầu hàng rồi mang quân tấn công lại quân Đại Việt. Thế nhưng kết quả Đại Việt đại thắng, Trần Văn Lộng phải chạy trối chết sang Trung Quốc, sau này được làm quan rồi chết nơi đất khách quê người.

6. Hoàng tử Trần Ích Tắc – Lòng dạ hẹp hòi

Là hoàng tử thứ năm, con vua Trần Thái Tông, em vua Trần Thánh Tông, vốn là người giỏi văn hay chữ chứ không giỏi võ. Khi Giang Sơn bị nhà Nguyên dòm ngó, các võ tướng được coi trọng, vì thế mà Trần Ích Tắc không được xem trọng. Ông bất phục các hoàng tử khác, đặc biệt là Trần Hoảng (sau này được lên ngôi vua, hiệu là Trần Thánh Tông).

Thấy mình tài giỏi mà không được xem trọng, văn tài giỏi nhất nhưng lại không được lên ngôi vua, Trần Ích Tắc rất bất bình. Khi quân Nguyên chuẩn bị tiến đánh Đại Việt lần thứ hai, Trần Ích Tắc thấy đây là cơ hội tốt nhất để có thể lên ngôi vua, nên thông qua các lái buôn ở Vân Đồn đưa thư đầu hàng giặc.

Khi quân Nguyên tiến sang, Trần Ích Tắc được cử đưa quân trấn giữ miền Đà Giang. Khi quân Nguyên đến, Ích Tắc đưa toàn bộ gia quyến đến đầu hàng và được phong là An Nam Quốc Vương. Thế nhưng Đại Việt đã giành chiến thắng khiến âm mưu lên ngôi vua của Ích Tắc sụp đổ, Trần Ích Tắc sang sống và mất ở Trung Quốc.

Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư có ghi chép rằng: “Đến nay, người Nguyên vào cướp, Ích Tắc xin hàng chúng để mong làm vua. Người Nguyên phong là An Nam Quốc Vương. Sau khi người Nguyên thất bại, Ích Tắc lòng hổ thẹn, chết ở đất Bắc“. Tại Đại Việt, nhà Trần loại Trần Ích Tắc ra khỏi tông thất, đặt tên là Ả Trần, vĩnh viễn không còn liên hệ huyết thống với con cháu của Trần Ích Tắc sau này.

Trong cuộc chiến chống quân Nguyên, trước thế giặc hùng mạnh, rất nhiều người dao động sợ hãi mà bí mật âm thầm viết thư xin hàng quân Nguyên. Về số phận của những người này, Đại Việt Sử ký Toàn thư có ghi chép như sau: “Năm 1289, tháng 5, sau khi đánh thắng quân Nguyên lần thứ ba, bắt được cả một hòm biểu xin hàng. Thượng hoàng (Trần Thánh Tông) sai đốt hết đi để yên lòng những kẻ phản trắc. Chỉ có kẻ nào đầu hàng trước đây, thì dẫu bản thân ở triều đình giặc, cũng kết án vắng mặt, xử tội đi đày hoặc tử hình, tịch thu điền sản, sung công, tước bỏ quốc tính”.

7. Trần Thiêm Bình – Kẻ mạo xưng

Về tên thật của Trần Thiêm Bình, sử sách đề cập khác nhau. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Thiêm Bình có tên là Nguyễn Khang, Khâm định Việt sử thông giám cương mục thì ghi Thiêm Bình vốn có tên là Trần Khang, vốn là gia nô của Trần Tông, một thổ hào ở vùng biên cương giữa Đại Việt và Chiêm Thành.

Cuối thế kỷ 14, cuộc chiến Việt-Chiêm bùng nổ ác liệt. Sau khi chiến tranh tạm lắng, nhà Trần hạ lệnh bắt trị tội nhiều thổ hào ở Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa và các tướng từng theo Chiêm Thành, trong số đó có Trần Tông. Sau khi Trần Tông bị bắt, Nguyễn Khang (hay Trần Khang) đổi tên là Trần Thiêm Bình và bỏ trốn sang Ai Lao, rồi đi theo đường Vân Nam chạy sang Trung Quốc.

Đến năm 1400, nhân sự kiện Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần-Đại Việt, lập ra nhà Hồ-Đại Ngu, Trần Thiêm Bình mạo xưng là con vua Trần Nghệ Tông, chạy sang Yên Kinh cầu viện nhà Minh xin giúp binh đánh Đại Ngu báo thù. Thiêm Bình khẩn khoản nói với Minh Thành Tổ ra quân, chỉ cần vài ngàn người có thể thắng lợi, vì đi tới đâu sẽ có người hưởng ứng.

Năm 1404, nhà Minh sai Lý Ỷ sang hỏi nhà Hồ về việc Trần Thiêm Bình. Lý Ỷ đến công quán sai người do thám tình hình Đại Ngu. Sau khi Lý Ỷ về, hoàng đế Hồ Hán Thương sai Nguyễn Cảnh Chân dâng biểu tạ tội và xin rước Trần Thiêm Bình về nước và tôn làm chúa .Tháng 4 năm 1406, lấy cớ đưa Trần Thiêm Bình về nước, Minh Thành Tổ sai Hàn Quan và Hoàng Trung mang 5.000 quân hộ tống để lập Trần Thiêm Bình làm vua.

Ngày 8 tháng 4, Hoàng Trung đánh vào cửa Lãnh Kinh. Hai cánh quân thuỷ bộ nhà Hồ đụng độ với quân Minh. Quân Đại Ngu khinh địch nên bị bại trận đầu tiên, 4 đại tướng tử trận, tể thần Hồ Nguyên Trừng suýt bị bắt sống .Nhưng đúng lúc đó, tướng Hồ Vấn mang quân từ Vũ Cao (Bắc Giang) đánh úp quân Minh. Hoàng Trung không chống nổi, đến đêm bèn rút quân về. Song các tướng Đại Ngu là Hồ Xạ và Trần Đĩnh mang quân đóng chặn ở ải Chi Lăng.

Quân Minh bị mất đường về, buộc phải chấp nhận giao nộp Trần Thiêm Bình và sai Cao Cảnh đưa hàng thư, đề nghị mở đường cho về nước: "Quan tổng binh Hoàng sai tiểu nhân tới đây trình bày ngài biết việc này: Trước vì Thiêm Bình chạy sang triều đình tâu rằng hắn chính là con của quốc vương An Nam, vì thế mới sai đại binh sang chiêu dụ. Không ngờ trăm họ xứ này đều không phục, rõ ràng là hắn nói bậy. Nay lui quan quân về tâu với triều đình thì bị quan ải dọc đường ngăn giữ, nghẽn lối không qua được. Nay đem Thiêm Bình tới nộp, xin thả cho đi thì may lắm". Hồ Xạ nhận hàng thư bằng lòng nhận Thiêm Bình và mở vòng vây cho quân Minh rút lui.

Trần Thiêm Bình bị quân Đại Ngu bắt mang về. Khi bị tra hỏi gốc tích quê quán thuộc tổng nào, Trần Thiêm Bình im lặng không chịu nói. Kết quả Thiêm Bình bị nhà Hồ xử tội lăng trì. Những thuộc hạ đi cùng Thiêm Bình được xá tội và đưa vào Nghệ An cho làm ruộng. Việc Trần Thiêm Bình bị giết khiến nhà Minh tức giận và dùng làm cớ tiến đánh nhà Hồ.

8. Lê Chiêu Thống – Cõng rắn cắn gà nhà

Lê Chiêu Thống  (1765 – 1793), tên thật là Lê Duy Khiêm, khi lên ngôi lại đổi tên là Lê Duy Kỳ, là vị hoàng đế thứ 16 và là cuối cùng của nhà Lê trung hưng. Với khẩu hiệu phù Lê diệt Trịnh, sau khi lật đổ họ Trịnh, anh em Tây Sơn giao lại Bắc Hà cho vua Lê (1786), rồi rút quân về Nam. Vua Lê lúc ban đầu là Lê Hiển Tông, sau khi qua đời, Lê Duy Khiêm (Lê Duy Kỳ) được kế vị, hiệu là Chiêu Thống, năm ấy 21 tuổi. Nhưng Chiêu Thống không đủ uy tín và tài năng để cai quản đất nước. Bắc Hà rơi vào loạn lạc, Lê Chiêu Thống phải hết dựa vào thế lực này đến thế lực khác, từ Đinh Tích Nhưỡng đến Nguyễn Hữu Chỉnh. Khi Chỉnh bị Võ Văn Nhậm diệt, Lê Chiêu Thống bỏ chạy sang Quảng Tây, Trung Quốc, cầu cứu nhà Thanh.

Nhân cơ hội ấy, quân Thanh do Tổng Lưỡng Quảng là Tôn Sỹ Nghị cầm đầu kéo sang. Ngay khi vào Thăng Long, chúng đã chẳng coi Lê Chiêu Thống ra gì. Vua ta phải hằng ngày vào chực ở bản doanh của Tôn Sỹ Nghị để nghe lời sai bảo. Tuy vua Lê đã được phong Vương, nhưng giấy tờ đưa đi các nơi, đều dùng niên hiệu Càn Long. “Ngày ngày sau buổi chầu, vua lại tới chờ ở doanh của Nghị để nghe truyền việc quân, việc nước. Vua cưỡi ngựa đi trước, Lê Quýnh cưỡi ngựa đi sau, quân lính hộ vệ chỉ vài chục người.

Người trong kinh có kẻ không biết là vua. Hoặc có người biết, thì họ nói riêng với nhau rằng: “Nước Nam ta từ khi có đế, có vương tới nay, chưa thấy bao giờ có ông vua luồn cúi đê hèn như thế. Tiếng là làm vua, nhưng niên hiệu thì viết là Càn Long, việc gì cũng do viên tổng đốc, có khác gì phụ thuộc vào Trung Quốc?”. Lại có hôm, vua tới yết kiến, Nghị không buồn tiếp, chỉ cho người đứng ở dưới linh các truyền bảo: “Hôm nay không có việc quân, việc nước gì. Hãy về cung yên nghỉ!” (Hoàng Lê Nhất Thống Chí). Đối với quân lính và bọn người Hoa ở Việt Nam, thì y lại dung túng cho chúng mặc sức làm điều phi pháp.

Vua Lê tuy biết sự tệ hại ấy, nhưng đã trót mời quân Thanh sang, chỉ sợ vì việc đó mà làm mếch lòng chúng, nên không dám nói gì. “Hoàng đế Quang Trung với chiến lược thần tốc, táo bạo đã đánh bại 29 vạn quân Thanh. Lê Chiêu Thống cùng gia quyến và các bề tôi trung thành lại chạy theo sang Trung Quốc, hy vọng cầu viện nhà Thanh một lần nữa. Nhưng lúc này, tình hình đã khác. Quân Thanh, mà thực chất là quân 4 tỉnh gần Việt Nam (Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu), sau những trận Ngọc Hồi, Khương Thượng, Đống Đa… đã trở nên khiếp sợ vua Quang Trung và quân Tây Sơn.

Theo Hoàng Lê nhất thống chí, khi quân ta đuổi chúng đến Lạng Sơn, đã nói phao lên rằng: “Sẽ giết hết rợ Hung Nô”. Do đó, ở đất Trung Quốc, “dân chúng lại càng nhốn nháo. Từ cửa ải Nam Quan trở về bắc, trai gái già trẻ, bồng bế dắt díu nhau chạy trốn, suốt vài trăm dặm, lặng ngắt không còn bóng người” (Hoàng Lê Nhất Thống Chí).

Tôn Sỹ Nghị bị cách chức, vua Càn Long cử Phúc Khang An là một người thuộc đội “cờ viền vàng”, được vua rất tin dùng, làm tổng đốc Lưỡng Quảng, thay mặt triều đình lo việc kinh lý với An Nam. Ở triều đình thì việc này giao cho Hòa Khôn (tức Hòa Thân, viên quan nổi tiếng tham nhưng lại được vua Càn Long tin dùng) trực tiếp phụ trách. Cả hai tên này đều không thích gì việc đánh Việt Nam.

Mặt khác, sau đại thắng, Quang Trung tìm cách hòa hiếu. Ông sai Ngô Thì Nhậm thảo thư gửi Phúc Khang An, nói rõ ta không có ý đánh nhau mà thực ra lỗi thuộc về Tôn Sỹ Nghị. An bày cho ta đưa vàng bạc đút lót cho Hoà Khôn. Khôn liền tâu với vua Thanh xin bãi việc binh, phong vương cho Quang Trung.

Khôn nói: “Từ xưa đến nay, chưa có đời nào làm nên công trạng ở cõi Nam. Nhà Tống rồi nhà Nguyên, nhà Minh, rốt cuộc đều bị thua trận, gương ấy hãy còn rành rành” (Hoàng Lê Nhất Thống Chí). Ngô Thì Nhậm cho Nguyễn Quang Thực, cháu gọi Nguyễn Huệ bằng cậu, giả làm Quang Trung, sang yết kiến vua Thanh, dâng thêm hai thớt voi đực. Dọc đường, người Thanh phải phục dịch chuyển vận rất khó nhọc.

Trong ngoài ai cũng biết là giả dối, mà không ai dám nói. Đến Yên Kinh, “vua” Quang Trung (giả) được đón tiếp rất chu đáo (Càn Long không biết hay biết nhưng cố tình lờ đi?), được phong vương. Và như vậy số phận Lê Chiêu Thống đã sắp được định đoạt mà y không biết.

Trong khi ấy, Phúc Khang An giả vờ bảo Lê Chiêu Thống: “Ngày xuất quân không còn xa, vương nên tự mình đem tả hữu liêu thuộc làm quân dẫn đường đi trước. Nhưng bây giờ nên gọt đầu gióc tóc, thay đổi quần áo giống như người Trung Quốc, để khi về Nam quân giặc không thể phân biệt được, thì công lớn mới có thể thành. Sau khi khôi phục nước nhà, bấy giờ sẽ lại theo như tục cũ. “Việc binh không ngại dùng cách xảo trá” Vương nên nghĩ tới chỗ đó. ”Lê Chiêu Thống tưởng thật, vâng lệnh ngay, lại còn nói: “Chúng tôi không giữ được nước nhà, may nhờ thiên triều cứu viện, dù cả nước phải ăn mặc như người Trung Quốc, cũng xin vâng lệnh. Việc ấy còn có tiếc gì?” (Hoàng Lê Nhất Thống Chí).

Thế là Khang An bèn làm một tờ biểu kín tâu với vua Thanh, nói rằng vua An Nam không còn có ý xin cứu viện nữa, vua tôi đều đã gióc tóc đổi đồ mặc, xin ở lại yên ổn trong đất Trung Quốc. Vậy xin bãi bỏ các đạo quân định đưa sang đánh dẹp phương Nam. Hoà Khôn nhân dịp tâu xin phong vương cho vua Quang Trung. Vua Thanh chuẩn y.

Mùa hè năm Nhâm Tý (1792), con đầu của vua Lê lên đậu rồi mất. Vua Lê lo buồn sinh bệnh, thoi thóp nằm liệt không dậy được. Năm sau, bệnh nhà vua càng nguy kịch, rồi mất (Càn Long thứ 58, 1792), thọ 28 tuổi. Ngày 11/10, niên hiệu Gia Khánh nhà Thanh (1799), Thái hậu (mẹ Lê Chiêu Thống) cũng mất ở “Tây An Nam doanh”. Vua Thanh cho chôn cạnh lăng Lê Chiêu Thống. Năm Giáp Tý (1804), lúc này triều Tây Sơn đã mất, Nguyễn Ánh lên ngôi vua. Nhà Thanh cho Lê Quýnh cùng các quan tòng vong được đưa di hài Chiêu Thống về táng ở quê nhà và cho tất cả các người bề tôi trốn theo đều được về nước. Các bề tôi mở quan tài vua Lê Chiêu Thống (đã quàn 12 năm) thì thấy da thịt đã nát hết, chỉ có trái tim không nát, mà sắc máu hầu như vẫn còn đỏ tươi! (chi tiết này ghi trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí, không rõ thực hư thế nào).

Thế mới hay, xưa nay, kẻ chỉ coi trọng quyền lợi của mình mà cam tâm ngoảnh mặt với dân tộc, cam tâm làm tay sai cho giặc hay đem giặc vào nhà, phản vua hại nước, tham quyền cố vị đều có kệt cục thật bi thảm. Đó cũng được xem là bài học răn dạy cho con dân nước Việt muôn đời.

Ngàn năm vẫn còn ca tụng câu nói khí tiết của Trần Bình Trọng:

"Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Ta đã bị bắt thì có một chết mà thôi, can gì mà phải hỏi lôi thôi”.

Dân chủ, nhân quyền giả hiệu hay những đất nước tan hoang vì nó

Việt Nam từ lâu cũng đã bị thế lực thù địch lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để chống phá Đảng và Nhà nước. Trong nhiều năm, các lực lượng phản động, trong đó có tổ chức khủng bố Việt Tân, liên tục tiến hành những hoạt động chống lại Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Không khó để bóc trần học thuyết “dân chủ, nhân quyền kiểu phương Tây” là nhằm loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xóa bỏ Chủ nghĩa Xã hội.

Phương thức hành động của những phần tử “dân chủ giả hiệu” là xuyên tạc, tung tin thất thiệt hòng kích động tâm lý bất mãn trong một bộ phận nhân dân, hướng tới phát động biểu tình, bạo động, tiến hành khủng bố, phá hoại ở Việt Nam, sau đó chuyển sang phương thức đấu tranh bất bạo động hiện đại, bản chất là kết hợp giữa “đấu tranh bất bạo động” với “bạo lực cục bộ địa phương”.

Thời gian qua, nhiều vụ việc cho thấy tổ chức khủng bố Việt Tân đã lợi dụng triệt để sự phát triển của Internet, nhất là mạng xã hội, để tuyên truyền, công kích, lôi kéo người dân tham gia các hội, nhóm trá hình trên không gian mạng. Lực lượng phản động thường sử dụng danh nghĩa phản biện xã hội, đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền, xây dựng xã hội dân sự, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ… song thực chất là để tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta. Một âm mưu nham hiểm nữa của chúng là tung hô luận điệu “nhân quyền cao hơn chủ quyền” hòng tạo cái cớ để nước ngoài can thiệp vào các vấn đề nội bộ của Việt Nam. Dân chủ, nhân quyền giả hiệu hay những đất nước tan hoang vì nó

Khái quát về dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý nhà nước

        Dân chủ là một phạm trù lịch sử xuất hiện cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người, trong xã hội cộng sản nguyên thủy, hình thái kinh tế - xã hội đầu tiên của nhân loại, “dân chủ” xuất hiện với việc mọi thành viên trong cộng đồng đều có quyền lợi bình đẳng như nhau đối với của cải, vật chất; được phân chia đồng đều các chiến lợi phẩm từ săn bắn, hái lượm. Với ý nghĩa nguyên thủy đó, “dân chủ” trở thành một phương thức tồn tại, một nguyên tắc sống của xã hội cộng sản nguyên thủy. Mỗi cá nhân được bình đẳng về quyền lợi, được đối xử như nhau không có sự phân chia, không có đặc quyền, đặc lợi, quyền lực thuộc về mọi người.

       Cùng với sự phát triển của trình độ sản xuất, xã hội bắt đầu có sự phân chia giai cấp và hình thành nên hình thái nhà nước đầu tiên – nhà nước chiếm hữu nô lệ, quyền lực công, quyền lực chung của cộng đồng lúc này bị tha hóa và nằm trong tay giai cấp thống trị, “dân chủ” trên phạm vi toàn xã hội biến mất, bất bình đẳng xã hội xuất hiện, trải qua nhiều giai đoạn phát triển của lịch sử, với các hình thức nhà nước khác nhau, nhân dân liên tiếp đấu tranh giành lấy quyền dân chủ.

       Về mặt học thuật, lần đầu tiên “dân chủ” được nhắc đến như một thuật ngữ chính trị và được biểu hiện dưới một chế độ chính trị là thời Hy Lạp cổ đại tại thành bang Athens, “dân chủ” tiếng anh là Democratic xuất phát từ tiếng Hy Lạp tức “là quyền lực nhân dân”, được thể hiện qua mô hình dân chủ Athens với việc nhân dân tham gia biểu quyết các vấn đề của nhà nước, các quyết định đưa ra trên cơ sở số đông.

       Ở phương Đông, Nho giáo nguyên thủy sớm đưa ra tư tưởng : “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Dân là quý nhất, rồi đến đất nước, cuối cùng mới là vua), đây là tư tưởng rất gần gũi với tư tưởng dân chủ, coi trọng vai trò, vị trí của nhân dân, đưa nhân dân vào vị trí trung tâm của quyền lực chính trị.  Tuy nhiên, tư tưởng này dần dần bị tha hóa, biến đổi để phù hợp với quyền lợi của giai cấp thống trị.

       Theo Từ điển Tiếng Anh Oxford, “dân chủ” cũng để chỉ một hình thức nhà nước, trong đó mọi thành viên đều tham gia vào việc ra quyết định về các vấn đề của mình, thường bằng cách bỏ phiếu để bầu người đại diện trong quốc hội hoặc thể chế tương tự.

       Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm Thường thức chính trị (1953) Bác đã viết “dân chủ tức là dân là chủ”, người chỉ rõ “Ở nước ta chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ... Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ”. Như vậy thông qua quan điểm rất ngắn gọn về dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên hai nội dung quan trọng của “dân chủ”. Thứ nhất, dân chủ tồn tại với tư cách là quyền của nhân dân, quyền được làm chủ chính quyền, làm chủ nhà nước, làm chủ chế độ, quyền lựa chọn, xây dựng nên cơ quan dân cử. Thứ hai, dân chủ là một chế độ chính trị, một hình thức nhà nước khi có sự tham gia của tất cả quần chúng nhân dân trong việc xây dựng, điều hành hoạt động của nhà nước, nhà nước đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.

       Giữa “dân chủ” và “quyền làm chủ của nhân dân” có nhiều nội dung tương đồng thậm chí được sử dụng thay thế cho nhau, song về mặt nội hàm cần làm rõ ý nghĩa của khái niệm “quyền làm chủ của nhân dân” từ đó có cách sử dụng chuẩn xác. Dân chủ là một khái niệm rất rộng, vừa để chỉ một quyền của công dân, vừa chỉ một thể chế chính trị, vừa mang ý nghĩa xã hội, văn hóa, dân chủ trong đời sống chính trị, dân chủ trong đời sống kinh tế, văn hóa xã hội. “Quyền làm chủ của nhân dân” là một khái niệm rất cụ thể, nội hàm rất rõ ràng, quyền làm chủ là làm chủ chính quyền nhà nước, quyền tham gia vào các công việc của nhà nước, quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, nhân dân làm chủ vận mệnh của bản thân, làm chủ vận mệnh của đất nước. “Quyền làm chủ của nhân dân” là một khái niệm gắn liền với sự ra đời của nhà nước dân chủ nhân dân.

       Trong thời kỳ phong kiến và thực dân đế quốc, nhân dân ta không có quyền làm chủ, số phận, địa vị chính trị của nhân dân là con số không, nhân dân chịu sự áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến, nhân dân không có quyền lực chính trị, chịu kiếp sống nô lệ, quyền lực nhà nước, chính quyền nhà nước lúc này là chính quyền của giai cấp thống trị, chính quyền của số ít. Khi nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, nhân dân thực sự có quyền làm chủ, trực tiếp xây dựng nên chính quyền các cấp, bầu ra đại biểu đại diện cho quyền và lợi ích của chính mình, nhà nước là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Quyền làm chủ của nhân dân tiếp tục được khẳng định qua các bản Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Khoản 2, Điều 2 Hiến pháp 2013 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Hiến pháp 2013 nhấn mạnh hai nội dung quan trọng: thứ nhất, nhà nước ta do nhân dân làm chủ; thứ hai, với việc thừa nhận tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, Hiến pháp đã nhấn mạnh vị trí của nhân dân là người nắm giữ quyền lực nhà nước.

       Hiện nay, cùng với sự mở rộng dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân không chỉ được nhắc đến trong lĩnh vực chính trị mà còn ở nhiều các lĩnh vực khác, trong đó có quyền làm chủ của nhân dân gắn với hoạt động quản lý nhà nước. Điều 28, Hiến pháp 2013 quy định:1. Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước. 2. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”.

       Như vậy, Hiến pháp 2013 – văn bản luật có giá trị pháp lý cao nhất của Việt Nam đã khẳng định rất rõ công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý nhà nước được thực hiện thông qua các nội dung sau:

       Thứ nhấtnhân dân tham gia xây dựng chính quyền nhà nước thông qua dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.

       Thứ hai, nhân dân tham gia xây dựng pháp luật và các chủ trương, chính sách của nhà nước.

       Thứ ba, nhân dân tham gia quyết định các vấn đề lớn của đất nước.

       Thứ tư, nhân dân giám sát hoạt động quản lý nhà nước và phản biện xã hội.

       Phát huy quyền làm chủ của nhân dân nói chung, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý nhà nước nói riêng đã trở thành một nội dung bắt buộc, được thừa nhận và đảm bảo thực hiện, được quy định rõ ràng, cụ thể trong các văn bản pháp luật. Có thể nói, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý nhà nước vừa củng cố, mở rộng quyền dân chủ của nhân dân vừa góp phần to lớn vào quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay