Thứ Ba, 12 tháng 12, 2023

Diễn đạt lại một cách không rõ ràng, xuyên tạc làm méo mó Chủ nghĩa Mác

     Có mấy biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin mà bấy lâu nay một bộ phận người cộng sản đã ngộ nhận, ở mức độ này hay khác, lầm lẫn dù tự giác hay không tự giác, trực tiếp làm lệch lạc nhận thức về Chủ nghĩa Mác-Lênin, vô hình bôi nhọ và phủ định nó.

          Dạng biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được dựng lên một cách giả trá theo chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa cơ hội. Trên bình diện này, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại, với bản chất cố hữu của nó, đã sử dụng một cách khôn ngoan chủ nghĩa thực dụng làm cơ sở phương pháp luận cho nó. Họ nhân danh Chủ nghĩa Mác-Lênin để thực hiện mưu toan tước bỏ nội dung giai cấp và tính cách mạng cốt làm méo mó, sai lệch ý tưởng của Mác, kỳ thực nhằm chống phá, phủ định Chủ nghĩa Mác-Lênin.

          Tất cả các luận đề của Mác, Ăngghen (Friedrich Engels), Lênin đều bị diễn đạt lại một cách không rõ ràng, hết sức trừu tượng đến mức phi lô-gích và lịch sử... bằng những mánh khóe bịp bợm, điều hòa đến mức không thể nào hiểu được một cách rõ ràng và dứt khoát. Nói như Lênin, bao giờ nó cũng tìm con đường trung dung, nó quanh co, uốn khúc như con rắn nước giữa hai quan điểm đối chọi nhau, nó tìm cách “thỏa thuận” với cả quan điểm này lẫn quan điểm kia, vì nó quy những bất đồng ý kiến của mình lại thành những điều sửa đổi nhỏ nhặt, những sự hoài nghi, những nguyện vọng thành tâm và vô hại...

          Từ đó Chủ nghĩa Mác-Lênin, qua bàn tay “nhào nặn” của những kẻ cơ hội và xét lại, chỉ còn là nhãn hiệu, chỉ còn là “xác” bằng sự tưởng tượng ngây thơ nhưng có sức nặng đủ để tự phản lại và giết chết chính nó, khi nằm trong tay họ, vô hình bóp nghẹt công tác lý luận, như lịch sử đã từng cảnh cáo.

Nhận diện những biến thể chủ yếu của Chủ nghĩa Mác-Lênin, dù chưa đầy đủ nhưng cốt để nói rằng, chúng ta cần tỉnh táo và cấp bách trở về với Chủ nghĩa Mác-Lênin, như nó vốn có và trả lại cho nó những giá trị đúng như nó đã có và đang được hiện thực hóa một cách không gì cưỡng nổi. Cố nhiên, đây là một công việc cực kỳ khó khăn nhưng không thể nào khác được, nếu muốn tiếp tục phát triển công tác lý luận ngang tầm sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.

Cắt xén, chắp vá một cách thực dụng, làm méo mó Chủ nghĩa Mác

     Có mấy biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin mà bấy lâu nay một bộ phận người cộng sản đã ngộ nhận, ở mức độ này hay khác, lầm lẫn dù tự giác hay không tự giác, trực tiếp làm lệch lạc nhận thức về Chủ nghĩa Mác-Lênin, vô hình bôi nhọ và phủ định nó.

          Biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được tồn tại một cách phổ biến theo kiểu bị cắt xén, chắp vá một cách thực dụng. Bằng cách phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan, với các quy luật khách quan cũng như mối liên hệ hữu cơ giữa các sự vật, hiện tượng, người ta tuyệt đối hóa vai trò ngẫu nhiên, vai trò cảm giác và kinh nghiệm chủ quan.

Và điều tệ hại, nguy hiểm nhất là người ta không thừa nhận tính chất khách quan của chân lý mà cho rằng chân lý do chủ quan cá nhân quyết định, không phải chỉ có một chân lý mà có nhiều chân lý, chỉ có cái gì có lợi cho họ mới là chân lý (!). Chủ nghĩa Mác-Lênin được nhào nặn và tạo ra dưới bàn tay của họ, theo cách đó. Và thế là Chủ nghĩa Mác-Lênin bị biến thành chủ nghĩa công cụ, chủ nghĩa hành vi, là thứ triết học của sức mạnh, dưới sự chi phối của chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa cơ hội.

Chia cắt, biệt lập Mác thời trẻ, đối lập Mác với Lênin biến thể làm méo mó Chủ nghĩa Mác

 

Có mấy biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin mà bấy lâu nay một bộ phận người cộng sản đã ngộ nhận, ở mức độ này hay khác, lầm lẫn dù tự giác hay không tự giác, trực tiếp làm lệch lạc nhận thức về Chủ nghĩa Mác-Lênin, vô hình bôi nhọ và phủ định nó.

          Biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được tạo ra tồn tại dưới dạng sản phẩm của sự diễn dịch chủ quan và giáo điều. Đây là dạng mà ngay lúc còn sinh thời, chính Mác phải thốt lên: “Tôi không phải là Mác và người theo Chủ nghĩa Mác”, khi ông đọc lại chính tư tưởng của mình, qua sự giới thiệu của những người cùng thời.

          Giờ đây, người ta lại chia cắt, biệt lập Mác thời trẻ và đem đối lập với Mác sau này; đem đối lập Mác với Lênin.Với Lênin, người ta cũng làm vậy. Nhất là sau khi Lênin mất, những di sản tư tưởng vĩ đại của ông bị người ta giải thích một cách thiên kiến, cứng nhắc, chủ quan và thô lậu. Và để tạo ra một thứ, theo họ được gọi là Chủ nghĩa Mác-Lênin, người ta đánh một dấu cộng đơn thuần, giữa Mác và Lênin, một cách hình thức, rồi coi như hoàn tất mọi việc.


Âm mưu xuyên tạc, hạ bệ Chủ nghĩa Mác

     Chính những kẻ từng khoác áo mác-xít sống được và thành danh nhờ Chủ nghĩa Mác-Lênin, sau năm 1991 và giờ đây lại quay sang coi C.Mác (Karl Marx), V.I.Lênin (Vladimir I.Lenin) như những “nhà tiên tri không thành đạt” (!), như những “ông thầy bói của lịch sử” (!).

          Nhưng chính những học giả của giai cấp tư sản, thông minh và bản lĩnh hơn những kẻ giả danh mác-xít nói trên, khi chính họ nhận ra sự “báo ứng” nan giải, sẽ trở nên vô phương cứu chữa đối với sự “cùng quẫn” của thể chế tư sản, lúc họ thiếu C.Mác. Bởi vì ở thời khắc cam go và hết sức phức tạp của lịch sử, ngay trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa, hiện nay đang khủng hoảng bởi thiếu một xung lực đúng đắn từ lĩnh vực tưởng ngỡ như nó nằm ngoài phạm vi hoạt động thực tiễn.

          Đó là lĩnh vực lý luận về kinh tế và xã hội, khi những cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu những năm 1997, 1998 và 2008; khi vấn nạn môi trường sinh thái toàn cầu lan rộng mà các quốc gia tư sản vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân không thể chối cưỡng. Điều đó giải thích vì sao chủ nghĩa tư bản (CNTB) và các phong trào chống lại “CNTB toàn cầu” đang bộc lộ sự lúng túng, yếu kém, thậm chí bất lực của chúng, vì họ thiếu một nền tảng lý luận xã hội căn bản, khoa học và phù hợp. 

          Nhận thức về nhu cầu bất khả kháng đó, không phải ai khác và cũng không phải ở đâu khác, chính Jacques Derrida-một triết gia danh tiếng phương Tây đã phải thốt lên:Chúng ta phải trở về với Mác. Nhân loại không có tương lai mà lại không có Mác.

          Điều đó đã lan tỏa sang cả nước Mỹ, khi ông Bao-lô-xu-ây-xi, một giáo sư đại học tại bang Florida, lên tiếng cảnh tỉnh: Nếu chủ nghĩa xã hội (CNXH) dùng trí lực của nhân loại-giống như Mác đã nói-thế thì, rất rõ ràng, ngoài CNXH không có sự cứu thế nào khác; và ngài M.Kha-rin-tơn, một nhà văn hóa học người Mỹ, dõng dạc tuyên bố: CNXH sẽ là người kế thừa các cuộc cách mạng tư sản vĩ đại, là phong trào hiện thực “tự do, bình đẳng, bác ái”, những điều không thể thực hiện được trong khuôn khổ của CNTB.

          Hiện nay, điều đáng nói hơn, ngay cả một bộ phận người cộng sản, trong hành trình hiện thực hóa lý tưởng cộng sản do chính Chủ nghĩa Mác-Lênin khởi xướng, vào những thời khắc khó khăn nhất, lại cũng tỏ ra do dự, hoài nghi, lúng túng; thậm chí, cả bằng sự thẩm xét hời hợt, nông cạn một cách hình thức qua các thái độ hoặc là ngoảnh mặt thờ ơ hoặc là kỳ thị, chối bỏ, rồi quay ra công kích Chủ nghĩa Mác.

          Sẽ trở thành ảo tưởng đáng thương hại, khi ai đó có thể tưởng tượng ra và kỳ vọng về một cuộc “cuộc duyệt binh” trong sự phát triển của những người làm lý luận mác-xít, với thứ mong muốn “đồng phục” về chính trị, về tư tưởng và trí lực. Trong sự phát triển và tiến hóa của tự nhiên cũng như vậy.Những kỳ vọng về sự thuần chủng tuyệt đối của một loài sinh vật nào đó là sự ảo tưởng, trái quy luật tự nhiên.

         

Thứ Tư, 26 tháng 7, 2023

VIỆT – LÀO HAI NƯỚC CHÚNG TA, TÌNH SÂU HƠN NƯỚC HỒNG HÀ, CỬU LONG

 

Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng thân thiết, núi liền núi, cùng dựa lưng vào dãy Trường Sơn, sông liền sông, cùng uống chung dòng nước sông Mekong, tương đồng văn hóa, giàu lòng nhân ái, bang giao hữu nghị, gắn bó lâu đời suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của hai dân tộc. Từ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, sau này là Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, mối quan hệ keo sơn đó đã phát triển mạnh mẽ lên tầm cao mới, trở thành nhân tố cực kỳ quan trọng bảo đảm cho sự thành công của cách mạng mỗi nước.

Cùng cháy bỏng khát vọng độc lập, tự do, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Kaysone Phomvihane và Chủ tịch Souphanouvong cùng các nhà lãnh đạo cách mạng tiền bối của hai nước đã chung tay gây dựng, gìn giữ và dày công vun đắp cho tình hữu nghị vĩ đại, đoàn kết gắn bó chặt chẽ và liên minh chiến đấu của cách mạng hai nước.

Trong suốt những năm tháng kháng chiến chống thực dân, liên quân Việt - Lào chung chiến hào, vượt qua bao gian khổ để đưa sự nghiệp kháng chiến của cả hai nước đi đến thắng lợi với đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 chấn động địa cầu.

Cách đây 61 năm, trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống chủ nghĩa đế quốc của nhân dân Việt Nam và Lào vô cùng ác liệt, nhất là sau khi Hiệp định Geneva năm 1962 về Lào được ký kết - một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng hai nước, Việt Nam và Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 5/9/1962. Đây là sự kiện trọng đại, mở ra một chương mới trong quan hệ hai nước, khẳng định sự gắn bó vận mệnh của hai dân tộc trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Trong những năm tháng khó khăn, gian khổ nhất, quân và dân Việt - Lào đã dành cho nhau sự chia sẻ sâu sắc và to lớn về vật chất lẫn tinh thần, “hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻ nửa” để viết tiếp bản anh hùng ca bất tử về tình đoàn kết chiến đấu.

Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã cử hàng vạn cán bộ, chiến sĩ sang phối hợp, giúp đỡ và sát cánh chiến đấu cùng quân và dân Lào. Cũng với tình cảm đặc biệt, Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào đã hết lòng hết sức hỗ trợ Việt Nam xây dựng “Đường Hồ Chí Minh”, “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”… Sự giúp đỡ lẫn nhau vô cùng to lớn và cao đẹp đó đã trở thành sức mạnh vô song, đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của mỗi nước đi đến thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975.

Sau khi hòa bình lập lại, hai nước đã ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác vào ngày 18/7/1977, là cơ sở chính trị, pháp lý quan trọng để không ngừng củng cố và phát triển toàn diện quan hệ Việt Nam - Lào trong thời kỳ xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Đây là một dấu mốc vô cùng quan trọng đối với cách mạng hai nước, khẳng định trên nền tảng vững chắc của tình đoàn kết và hữu nghị không gì lay chuyển được giữa nhân dân hai nước, tình đồng chí vĩ đại giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào được tôi luyện qua hàng chục năm sát cánh chiến đấu giành độc lập, tự do, hai nước Việt Nam và Lào nguyện hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau với tình cảm vô tư, trong sáng để cùng nhau bảo vệ độc lập, hòa bình và phát triển kinh tế - xã hội.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của mỗi nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trong đó quan hệ Việt Nam - Lào không ngừng phát triển toàn diện và ngày càng đi vào chiều sâu.

Quan hệ chính trị giữa hai Đảng và hai nước ngày càng gắn bó, tin cậy, là nền tảng vững chắc định hướng cho hợp tác hai nước trên tất cả các lĩnh vực.

Nhìn lại chặng đường lịch sử hào hùng 60 năm qua, Việt Nam và Lào luôn tự hào về mối quan hệ đặc biệt, vừa là đồng chí, vừa là anh em giữa hai nước. Đó là mối quan hệ do Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Chủ tịch Kaysone Phomvihane, Chủ tịch Souphanouvong đặt nền móng và được các thế hệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước dày công vun đắp.

Đó là mối quan hệ xuất phát từ tình đồng chí thủy chung giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào luôn sát cánh bên nhau trong đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây và sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước ngày nay. Đó cũng là mối quan hệ đáp ứng nguyện vọng chung tha thiết của nhân dân hai nước về tình đoàn kết, tương trợ lẫn nhau trên tinh thần nhân văn “giúp bạn là tự giúp mình”, hợp tác hữu nghị, bình đẳng và cùng có lợi.

Mối quan hệ thủy chung, trong sáng giữa hai Đảng và hai nước đã trở thành mối quan hệ mẫu mực, hiếm có trên thế giới như Chủ tịch Kaysone Phomvihane đã khẳng định: “Trong lịch sử cách mạng thế giới cũng đã có những tấm gương sáng chói về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ có sự đoàn kết, liên minh chiến đấu đặc biệt, lâu dài, toàn diện đến như vậy”.

Quan hệ Việt-Lào luôn có vị trí ưu tiên hàng đầu trong đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn nhận thức sâu sắc rằng, mỗi thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất trước đây cũng như trong công cuộc đổi mới ngày nay của Việt Nam đều gắn liền với sự đoàn kết, ủng hộ và giúp đỡ chí nghĩa, chí tình của Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào. Trong trái tim của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam mãi mãi khắc sâu lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“Việt - Lào hai nước chúng ta,

Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”.

 

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN NHỮNG THÀNH TỰU TRONG BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

 


Hiện nay trên nhiều trang mạng trong và ngoài nước cũng như một số phương tiện truyền thông quốc tế, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lấy danh nghĩa “dân chủ, nhân quyền” ra sức xuyên tạc tình hình thực tế tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời, họ triệt để lợi dụng sự đánh giá không khách quan, trung thực, thiếu thiện chí của một số hãng thông tấn, báo chí nước ngoài về tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền nhằm hạ thấp vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

Các tổ chức nhân danh báo chí như: “Phóng viên không biên giới”, “The project 88”… vu khống Việt Nam bóp nghẹt tự do ngôn luận, tự do báo chí , gây sức ép đòi thả tự do cho các đối tượng bị cơ quan chức năng bắt giữ do vi phạm pháp luật Việt Nam như: Trần Thị Tuyết Diệu, Lê Trọng Hùng, Trần Quốc Khánh, Trương Châu Hữu Danh,… Thậm chí, đằng sau mưu đồ đó, chúng tập hợp lực lượng, hình thành các tổ chức chống đối lật đổ chính quyền.

Tuy nhiên, cần khẳng định Việt Nam là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, luôn tuân thủ luật pháp quốc tế. Ngày 9/11/1946, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp gồm 7 chương, 70 điều, trong đó, quyền tự do ngôn luận được hiến định ở Điều thứ 10: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Trong các văn kiện của Đảng, các bản Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định và hiện thực hóa quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Tiếp cận thông tin và Luật Báo chí sửa đổi năm 2016 quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ; việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân; Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin”. Điều 10 của luật này cũng quy định công dân có quyền tự do tiếp cận thông tin được cơ quan nhà nước công khai, đồng thời được yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin.

Đối với quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân được quy định tại Điều 11, Luật Báo chí sửa đổi: “Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân”. Đồng thời, khẳng định “Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân; báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”. Thực tế, đến hết năm 2020, Việt Nam có 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động, 779 cơ quan báo chí (trong đó có 142 báo, 612 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử), 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh truyền hình với tổng số 87 kênh phát thanh và 193 kênh truyền. Theo thống kê năm 2020, Việt Nam có khoảng 70% dân số sử dụng điện thoại di động, số người dùng Facebook tại Việt Nam có 69.280.000 người, chiếm 70,1% dân số. Sóng của những hãng thông tấn, báo chí lớn như CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg… đều được tiếp cận dễ dàng tại Việt Nam.

Những dữ kiện trên phần nào đã khẳng định những thành tựu to lớn và vững chắc trong việc đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam, đồng thời là cái tát vào mặt những kẻ rêu rao rằng: Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí.

 

TÔN VINH CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP ĐẠI TƯỚNG MAI CHÍ THỌ

 


Ông Mai Chí Thọ là vị Đại tướng đầu tiên của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam; là cán bộ lãnh đạo bản lĩnh, có tầm nhìn xa, tư duy đổi mới, quyết liệt

Ngày 12-7, nhân kỷ niệm 101 năm ngày sinh Đại tướng Mai Chí Thọ (15.7.1922 - 15.7.2022), Bộ Công an và Thành ủy TP HCM phối hợp tổ chức hội thảo khoa học "Đại tướng Mai Chí Thọ với lực lượng Công an nhân dân Việt Nam và Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP HCM". Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm và Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP HCM Nguyễn Văn Nên chủ trì hội thảo.

Sâu sát, bình dị với chiến sĩ, nhân dân

Đại tướng Lê Hồng Anh - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thường trực Ban Bí thư, nguyên Bộ trưởng Bộ Công an - cho biết ngay khi còn là một cán bộ trẻ, mới tham gia phong trào cách mạng, ông đã được nghe những câu chuyện cảm động và rất đáng khâm phục về tấm gương tận tụy, dũng cảm, trí tuệ của Đại tướng Mai Chí Thọ. "Trong cảm nhận và suy nghĩ của nhiều đồng chí, đồng bào, anh Năm Xuân (bí danh của Đại tướng Mai Chí Thọ) là nhà lãnh đạo rất sâu sát với đời sống chiến sĩ, nhân dân; rất tâm lý với những suy tư, trăn trở, khó khăn của cấp dưới. Cương quyết, thậm chí quyết liệt với kẻ thù, nhưng với đồng bào, đồng chí, anh Năm Xuân bao giờ cũng thể hiện thái độ đúng mực, tỉnh táo, mềm mỏng" - Đại tướng Lê Hồng Anh hồi tưởng.

PGS-TS Phan Xuân Biên, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, từng công tác tại Văn phòng Bộ Tư lệnh Phân khu 6, sau này là Quân khu Sài Gòn - Gia Định, kể ông thường xuyên gặp chú Năm Xuân - lúc đó là Phó Bí thư Thành ủy kiêm Chính ủy quân khu. Chia sẻ về phong trào cách mạng đô thị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bí thư Thành ủy Mai Chí Thọ (1973-1975), PGS-TS Phan Xuân Biên cho hay: "Với cương vị là Bí thư Thành ủy trực tiếp phụ trách nội thành, trong thời gian ngắn, đồng chí Mai Chí Thọ lãnh đạo Thành ủy Sài Gòn - Gia Định tích cực tổ chức nhiều cao trào chính trị tiến tới một cuộc bùng nổ cách mạng vừa căn cơ theo từng bước vững chắc vừa nhạy bén, triệt để thực hiện các mục tiêu khi có thời cơ".

Trung tướng Võ Viết Thanh - nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, nguyên Chủ tịch UBND TP HCM - cho biết trong sinh hoạt, Đại tướng Mai Chí Thọ rất bình dân. Cố Đại tướng tối kỵ với bệnh hình thức, tốn kém vô nghĩa hoặc tâng bốc nhau mang tính cơ hội, xu nịnh. "Khi đồng chí Mai Chí Thọ được nhà nước phong hàm Đại tướng đầu tiên trong ngành công an, không có tiệc tùng hoặc nhận quà cáp của bất cứ ai. Tôi chỉ mời Đại tướng và một số ít anh em đến nơi tôi ở tại Hà Nội ăn bữa cơm với mắm kho cá đồng" - ông Võ Viết Thanh nhớ lại.

Có mặt tại hội thảo, bà Phan Thị Thanh Xuân, con gái Đại tướng Mai Chí Thọ, tâm sự: Trong gia đình, các con luôn nhớ đến hình ảnh Đại tướng quyết liệt, bỏ nhiều công sức giải quyết bộn bề công việc sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975); trong công cuộc cải cách, đổi mới để vượt qua bao vây cấm vận, nhiều khó khăn trong đổi mới và đối ngoại, nhiều trì trệ thời bao cấp. "Từ năm 1991, ông chính thức nghỉ hưu và thôi các chức vụ, chúng tôi mới thực sự cảm nhận được về con người ông và thêm ngưỡng mộ cha mình. Có lần ông nói rất sung sướng khi ra phố, dạo chợ được mọi người chào mời, tiếp đón bình dân" - bà Xuân chia sẻ thêm.

Năng động, sáng tạo, quyết liệt

Bí thư Thành ủy TP HCM Nguyễn Văn Nên nhìn nhận Đại tướng Mai Chí Thọ là cán bộ lãnh đạo xuất sắc và mẫu mực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố; một nhà lãnh đạo gần gũi, thân thương, chí tình, chí nghĩa, giản dị, gương mẫu.

Điểm lại cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi hơn 70 năm của Đại tướng Mai Chí Thọ, Bí thư Nguyễn Văn Nên nhấn mạnh: Trải qua 2 cuộc kháng chiến, Đại tướng Mai Chí Thọ luôn có mặt ở nơi đầu sóng ngọn gió, từ miền Tây đến miền Đông Nam Bộ; được giao nhiều trọng trách và ở cương vị nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong công cuộc xây dựng đất nước, phát triển thành phố, Đại tướng là nhà lãnh đạo bản lĩnh, có tầm nhìn xa, tư duy đổi mới, năng động, sáng tạo, quyết liệt. Những phẩm chất này đã lan tỏa ra nhiều nơi trong cả nước, góp phần quan trọng vào đường lối đổi mới đất nước.

Khi trở thành Bộ trưởng Bộ Công an trong giai đoạn đổi mới, Đại tướng đã cùng Đảng ủy, tập thể lãnh đạo bộ đề ra những chủ trương, biện pháp quan trọng, chỉ đạo toàn lực lượng công an thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ an ninh - trật tự, giữ vững ổn định chính trị, tô thắm truyền thống anh hùng của lực lượng Công an nhân dân "vì nước quên thân vì dân phục vụ". "Di sản Đại tướng để lại khó kể hết được nhưng những gì đọng lại là một nhân cách lớn, phẩm chất đạo đức trong sáng với tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, tính cách mạnh mẽ, khẳng khái, bộc trực, đầy lòng nhân ái, vị tha, hết lòng vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân" - Bí thư Nguyễn Văn Nên bày tỏ.

Trong những năm tháng cuối đời, Đại tướng Mai Chí Thọ vẫn luôn dành trí tuệ, tâm sức, tình cảm cho công tác xây dựng Đảng, chính quyền, lực lượng công an trong sạch, vững mạnh; đóng góp to lớn trong vận động xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, khuyến học và nhiều hoạt động xã hội.

Phát biểu kết luận, Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm đánh giá hội thảo đã đạt được những kết quả quan trọng. Thứ nhất, tôn vinh những công lao, đóng góp to lớn của Đại tướng với sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung, lực lượng Công an nhân dân, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân TP HCM nói riêng. Trong đó, có những quyết sách, nỗ lực nhằm ổn định xã hội, sáng tạo "vượt rào" để phát triển kinh tế ở TP HCM và đổi mới toàn diện công tác công an, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Thứ hai, phân tích, làm sâu sắc hơn những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đại tướng Mai Chí Thọ về đổi mới kinh tế, xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Thứ ba, đúc rút được những kinh nghiệm quý báu từ cuộc đời, sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đại tướng, cần được vận dụng vào thực tiễn hoạt động của TP HCM và Bộ Công an, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng lực lượng công an ngày càng vững mạnh.

Tấm gương sáng của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân Nam Định

Đại tướng Mai Chí Thọ sinh ra ở tỉnh Nam Định, phần lớn cuộc đời hoạt động cách mạng gắn bó máu thịt với Sài Gòn - Gia Định - TP HCM. Ông vinh dự được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Sao Vàng, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhất, Huân chương Lao động hạng nhất, Huy chương "Vì an ninh Tổ quốc" và nhiều phần thưởng cao quý khác của bạn bè quốc tế.

Tự hào về người anh hùng của quê hương Nam Định, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Nam Định Phạm Gia Túc nhấn mạnh: "Cuộc đời, sự nghiệp và nhân cách cao đẹp của đồng chí Mai Chí Thọ là tài sản vô giá, làm rạng danh quê hương, đất nước và là tấm gương sáng để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Nam Định học tập, noi theo".

NHỮNG KIỂU XUYÊN TẠC, VU CÁO TRONG THỜI ĐẠI SỐ

 


Những năm qua, một trong các yếu tố tạo nên uy tín của Việt Nam trong quan hệ quốc tế là việc Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định quan điểm tiến bộ, tích cực về nhân quyền, đồng thời cố gắng tạo điều kiện để mọi người dân được hưởng các quyền của mình và trên thực tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nhân quyền không ai có thể phủ nhận. Tuy nhiên, không phải khi nào hoạt động này cũng nhận được sự hợp tác thiện chí từ một số quốc gia. Nhân quyền là giá trị thiêng liêng mà toàn thế giới hướng tới.

Thế nhưng đây cũng là chủ đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch và một số tổ chức phi chính phủ được sự giúp đỡ của phương Tây luôn tìm cách lợi dụng nhằm thực hiện những động cơ xấu để can thiệp vào công việc nội bộ nước khác, nhất là các quốc gia có thể chế chính trị XHCN nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản.

Trong mọi giai đoạn cách mạng, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách chống phá Đảng, Nhà nước ta bằng nhiều hình thức tinh vi, xảo quyệt với nhiều phương tiện, cách thức khác nhau hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước, gây hoang mang trong dư luận xã hội. Các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ trong thời đại số nhằm tận dụng đa dạng các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là các mạng xã hội, xuất bản báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước. Tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chống phá Việt Nam (như VOA tiếng Việt, RFA, RFI, BBC Việt ngữ, HRW...) để tuyên truyền quan điểm đa nguyên, đa đảng, hạ bệ thần tượng, gây nghi kỵ, chia rẽ nội bộ, triệt để khai thác các sự kiện chính trị, những vấn đề nhạy cảm để mở các chiến dịch tuyên truyền chống Việt Nam.

Đồng thời các hội, nhóm, tổ chức phi chính phủ nước ngoài không có thiện chí với Việt Nam tổ chức nhiều cuộc điều trần, hội thảo, họp báo, ra tuyên bố, ban hành một số nghị quyết, báo cáo… vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam; gắn viện trợ nhân đạo với những đòi hỏi về cải thiện dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do báo chí ngôn luận…. Hậu thuẫn tổ chức phi chính phủ thông qua việc triển khai các dự án với những mỹ từ như “thúc đẩy”, “cải thiện nhân quyền”, khích lệ các đối tượng phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài và số đối tượng chống đối trong nước gia tăng hoạt động. Nhiều tổ chức như Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW), Ân xá quốc tế (AL), Freedom House (FH)… trong báo cáo hàng năm, một mặt thừa nhận Việt Nam có chuyển biến tích cực nhưng vẫn cố ý đánh giá tiêu cực về tình hình nhân quyền Việt Nam.

Thông qua các nền tảng số, các thế lực thù địch sử dụng những tin, bài, hình ảnh của báo chí chính thống trong nước, sau đó tô vẽ thêm bớt, đưa ra những nội dung “thật giả lẫn lộn” và thông tin sai lệch để đưa lên mạng xã hội. Chúng lập ra những trang/tài khoản núp dưới danh xưng của các cơ quan Chính phủ, lãnh đạo cấp cao nhằm lôi kéo tâm lý hiếu kỳ của công chúng, đánh vào khoảng trống thông tin (mà báo chí chính thống trong nước chưa đăng tải hoặc cần thời gian kiểm duyệt thông tin); ngụy tạo các bài viết dưới những tiêu đề giật gân liên quan đến những vấn đề đang được dư luận quan tâm… Những thủ đoạn lợi dụng nền tảng số nêu trên của các thế lực thù địch, phản động, bất mãn ít nhiều đã dẫn dụ và lừa dối được một bộ phận người dân. Những cái “bẫy thông tin”mà các đối tượng thù địch, phản động, tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam tung ra cũng đã khiến cho nhiều người nước ngoài không phân biệt được thông tin chính thống và thông tin giả mạo, dẫn đến có nhận thức không đúng, không tốt về Việt Nam.

Vì thế, mỗi tổ chức, mỗi cá nhân cần nêu cao cảnh giác, tránh mắc mưu địch. Đồng thời, cùng có trách nhiệm sử dụng các nền tảng công nghệ số để phục vụ tuyên truyền một mặt góp phần thúc đẩy quảng bá về một Việt Nam thân thiện, mến khách, một đất nước được coi là “điểm hẹn của hòa bình”, điểm đến an toàn cho bè bạn quốc tế, mặt khác góp phần phản bác lại các thông tin tuyên truyền sai trái, thù địch đối với Việt Nam cũng như nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam với thế giới.

 

NHẬN DIỆN CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN MẠNG XÃ HỘI HIỆN NAY

 

 


 

Trong giai đoạn hiện nay, âm mưu, thủ đoạn và sự chống phá của các thế lực thù địch không hề thay đổi, trái lại ngày càng tinh vi hơn. Chúng đã triệt để lợi dụng những thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ, khai thác không gian mạng xã hội để gia tăng sức ảnh hưởng và tiếp tục không ngừng chống phá Đảng và Nhà nước ta. Có rất nhiều các quan điểm khác nhau, song, có thể nhóm chúng vào một số vấn đề lớn như sau:

Phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng ta, cụ thể là phủ nhận học thuyết Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Chúng sử dụng nhiều thủ đoạn, từ tinh vi thâm độc đến công khai trắng trợn nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp phủ định các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin. Một số phản động khác thì tuyên truyền: Chủ nghĩa Mác chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, nay đã lỗi thời và lạc hậu. Chủ nghĩa Mác- Lênin phù hợp một chừng mực nào đó với trình độ lực lượng sản xuất và văn hoá Nga, không phù hợp với thế kỷ này, với nước ta. Từ những lập luận đó chúng đi đến những kết luận xuyên tạc như: Hồ Chí Minh chỉ là người dân tộc chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm phương tiện, du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin với thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm, rằng: Đưa chủ nghĩa Mác- Lênin vào Việt Nam là một sai lầm.

Phủ nhận CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng

Các thế lực phản động ra sức làm lung lạc ý chí của nhân dân ta với các luận điệu tuyên truyền: Việt Nam trước đây có sự giúp đỡ của các nước XHCN thì có thể bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN, nay không còn sự giúp đỡ đó thì không thể đi lên CNXH được, hãy trở lại chế độ dân chủ nhân dân. Chúng xuyên tạc: đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN của ta là chắp vá, không tưởng. Chúng rùm beng rằng: Việt Nam hiện nay đang đứng ở ngã ba đường không biết đi theo con đường nào; kêu gọi ta không nên cứ tôn thờ CNXH một cách lý thuyết suông mà hãy hoà nhập vào thời đại, đi theo con đường TBCN. Cuối cùng, chúng khẳng định: không có con đường đổi mới để có CNXH, mà chỉ có con đường từ bỏ CNXH để quay về với cái dòng chính tự nhiên của lịch sử là CNTB. Nếu chúng ta biết tự giác theo con đường đó thì đến đích nhanh hơn, nếu không thì tất yếu sẽ phải đi theo con đường đó nhưng đến đích đau đớn hơn...

          Công kích đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là định hướng XHCN

Những thế lực chống cộng tập trung công kích đường lối đổi mới của Đảng và nhân dân ta bằng nhiều luận điệu xuyên tạc trắng trợn. Chúng cho rằng: Những thắng lợi trong công cuộc đổi mới của nước ta chẳng qua vì những người cách mạng Việt Nam đã quá độ sang CNTB, đi theo CNTB. Chúng phê phán đường lối phát triển của ta lấy kinh tế nhà nước là chủ đạo tức là tập trung vào khu vực kinh tế kém hiệu quả, khó tránh khỏi tụt hậu, yêu cầu ta phát triển thị trường tự do tư bản, khuyến khích tư nhân phát triển…

Lợi dụng kết quả cuộc đấu tranh chống tham nhũng do Đảng ta tiến hành, chúng xuyên tạc, bóp méo, vu khống, suy diễn cho rằng đó là cuộc “thanh toán phe phái”, “trả thù cá nhân” giữa người này với người kia, nhóm này với nhóm khác vì “lợi ích nhóm”... Từ đó, nhằm gieo rắc những hoài nghi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chúng xuyên tạc các mối quan hệ cho rằng người này ủng hộ người kia, người này cùng ê kíp người kia, rồi tự phân chia phe phái. Từ những sự việc mà báo chí đã đưa tin, chúng đặt điều, vu khống, bóp méo, xuyên tạc nói rằng người này đang “dắt tay” người kia vào vị trí này, vị trí nọ; bình phẩm, phán xét rồi nhận định người này nghỉ thì người kia sẽ lên thay và cuộc chiến chống tham nhũng sẽ đi về đâu, “cán cân” quyền lực sẽ nghiêng về phe nào. Âm mưu của chúng là gây hoang mang, hoài nghi trong nhận thức tư tưởng trong Đảng và nhân dân về đường lối đổi mới và định hướng XHCN.

Xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu cán bộ, đảng viên của ta

Những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu cán bộ, đảng viên được kẻ xấu thể hiện ở một số kiểu dạng như: xuyên tạc, sai sự thật về tình hình sức khỏe; moi móc, thêu dệt bí mật đời tư; bình phẩm, phán xét về trình độ, năng lực; xuyên tạc nhân phẩm, đạo đức lối sống... Chẳng hề được chứng kiến sự kiện, mà chỉ là “bắc chõ nghe hơi”, nhưng chúng đã dựng nên những câu chuyện về các cuộc tiếp xúc ngoại giao, đón tiếp nguyên thủ các quốc gia sang thăm, các chuyến đi công tác nước ngoài... Điều này khiến cho dư luận hiểu sai về trình độ, khả năng ứng xử của cán bộ, hiểu sai về đường lối đối ngoại của Việt Nam ta.

Bên cạnh đó, chúng dùng chiêu “nắn dòng” đưa ra những thông tin bình phẩm về trình độ, năng lực của người này, người kia rồi đặt lên bàn cân so sánh. Khi cần “hạ bệ” cá nhân nào, chúng tập trung khoét sâu những hạn chế, khuyết điểm ở những ngành, những lĩnh vực mà cá nhân đó phụ trách; rồi quy kết trách nhiệm theo kiểu “bới lông tìm vết”, “có ít xít ra nhiều”; thậm chí là trắng trợn dựng chuyện, bịa đặt, đổi trắng thay đen, bóp méo hòng thay đổi bản chất của các vụ việc liên quan đến một số cán bộ, nhất là những đồng chí nằm trong quy hoạch nhân sự trước mỗi kì Đại hội Đảng...

Đó là một số dạng cơ bản mà các thế lực thù địch chống phá trên lĩnh vực tư tưởng – văn hóa. Phương pháp, thủ đoạn chủ yếu của chúng là dùng “thứ lý luận phản khoa học” và các đòn tâm lý để kích thích trí tò mò của những người thiếu hiểu biết, nhẹ dạ. Vì vậy, chúng ta phải rất tỉnh táo để nhận diện, biết được đâu là thông tin đúng, đâu là thông tin sai, thông tin bịa đặt.

 

 

“MƯA RÀO...MƯA RÀO...XIN MƯA RÀO LÊN ĐỈNH E5”

 


"Mưa rào....mưa rào...xin mưa rào lên đỉnh E5" - Đó là câu nói cuối cùng của anh hùng liệt sĩ Lê Trần Mẫn trên tổ hợp thông tin.

Lê Trần Mẫn sinh năm 1961, dân tộc Kinh, quê ở xã Hoằng Phú, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ tháng 3 năm 1979. Khi hy sinh anh là thượng sĩ, y tá, đại đội 7 bộ binh, tiểu đoàn 5, trung đoàn 153, sư đoàn 356, Quân khu 2.

Ngày 24/12/1985 sau khi chống trả đợt phản kích của quân Trung Quốc, thấy địch cắm cờ trên chốt, anh chỉ huy các chiến sĩ tập trung hỏa lực diệt địch tại đây và tiến hành nhổ cờ của quân Trung Quốc đã cắm.

Thương vong nhiều, đạn dược cạn kiệt, trước nguy cơ mất cao điểm, anh đã gọi về sư đoàn xin pháo bắn trùm lên điểm cao, chấp nhận hy sinh chứ không để mất đất về tay quân xâm lược.

Hơn 30 năm trôi qua nhưng cán bộ chiến sĩ E153 vẫn nhớ mãi câu nói của anh trên tổ hợp thông tin "Mưa rào....mưa rào...xin mưa rào lên đỉnh E5". Các chỉ huy đã rơi nước mắt khi lệnh cho pháo 105 của D10 E150 bắn lên E5. Lính pháo thì thắc mắc sao lại bắn vào tọa độ đó, anh em biết chuyện ai cũng vừa bắn vừa khóc....

Thân xác, xương máu của các anh mãi mãi hòa mình vào mảnh đất Vị Xuyên bảo vệ quê hương, đất nước.

 

ĐỔI MỚI, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG LÀ VIỆC LÀM THƯỜNG XUYÊN

 


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư.

Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Thực hiện tư tưởng của Người, Đảng ta không ngừng chăm lo công tác xây dựng Đảng, lãnh đạo nhân dân ta vượt qua mọi gian nan, thử thách, đưa cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Ngày nay, Đảng đang lãnh đạo nhân dân ta thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và đã đạt được những thành tựu to lớn và quan trọng. Tuy nhiên trước yêu cầu mới ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng, trong Đảng đã bộc lộ một số yếu kém như: sự suy thoái về tư tưởng chính trị, tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không nghiêm… Đảng ta đã xác định phải tiếp tục coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ sống còn, củng cố, chỉnh đốn, làm cho Đảng ngày càng vững mạnh về mọi mặt.

Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Với cương vị lãnh đạo của mình, Đảng phải là một Đảng trí tuệ, đạo đức, văn minh. Là thành viên của hệ thống chính trị, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng phải xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; chống mọi biểu hiện tiêu cực của bộ máy nhà nước như bệnh quan liêu, tham nhũng, lãng phí; xây dựng và nâng cao bản lĩnh chính trị và uy tín của đội ngũ cán bộ, đảng viên với tinh thần hiểu dân, học dân, hỏi dân, tin dân, thật sự là người đày tớ trung thành của nhân dân. Đảng phải luôn chú trọng công tác xây dựng Đảng, thường xuyên tự đổi mới và chỉnh đốn. Đảng phải quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đảng viên, đưa ra khỏi hàng ngũ của Đảng những người không xứng đáng. “Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình, Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa để tiến bộ, để dạy bảo cán bộ và đảng viên” (Hồ Chí Minh). Đây là nhiệm vụ xuyên suốt trong công tác xây dựng Đảng.

Đứng trước thời cơ và thách thức mới, để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, mỗi cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân cần nâng cao hơn nữa tinh thần cảnh giác, không chủ quan với những thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, không mơ hồ, lơ là với tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kiên định chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII, XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Quy định về những điều đảng viên không được làm… coi đây là giải pháp đột phá để xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu. Từ đó đưa ra khỏi Đảng những cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, không đủ tư cách, tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa, biến chất về đạo đức, lối sống, cơ hội, bè phái, cục bộ địa phương, coi thường pháp luật, không tôn trọng nhân dân...

 

VAI TRÒ QUAN TRỌNG CỦA CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC ĐỎI MỚI Ở MƯỚC TA HIỆN NAY.

 


 

Trong thời gian vừa qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước thường xuyên đưa các thông tin, luận điệu về công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng xuyên tạc, bóp méo về công tác phòng chống tham nhũng của Đảng ta là cuộc “thanh trừng nội bộ”, “ẩu đả phe cánh” và nguồn gốc của tham nhũng xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta. Không dừng lại ở đó, chúng còn đưa ra các kết luận vô căn cứ như: Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng vì Đảng cũng suy thoái; tham nhũng hay tình trạng tham nhũng trong Đảng Cộng sản Việt Nam là “căn bệnh nan y không có thuốc chữa”; nguyên nhân tất yếu và nguồn cơn của của tham nhũng là do Đảng ta là chế độ một Đảng duy nhất cầm quyền và kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ …

Thủ đoạn của các thế lực thù địch là hết sức thâm hiểm, chẳng hạn: Khi chúng ta xử lý kỷ luật một số cán bộ Đảng viên liên quan đến tham nhũng nhưng chưa áp dụng xử lý theo quy định của pháp luật Hình sự thì một số trang mạng cho rằng đây là kiểu “kỷ luật mềm”, chỉ là cái cớ chứ sự thực “Đảng vẫn bao che, dung túng”. Đến khi chúng ta xử lý hình sự những cán bộ, Đảng viên này thì chính những trang mạng này lại quay ngoắt ngòi bút phi nghĩa theo dã tâm của chúng và cho rằng đây là cuộc “đấu đá nội bộ” hay “thanh trừng phe cánh”. Âm mưu của các thế lực thù địch là rất tàn độc, để đạt được mục đích, chúng thay đổi luận điệu để đánh vào tâm lý, lòng tin của quần chúng nhân dân làm giảm niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta.

Chúng ta cần phải khẳng định rằng tham nhũng là một hiện tượng tồn tại mang tính tất yếu và khách quan trong xã hội phân chia giai cấp và có nhà nước.  Tham nhũng không chỉ xảy ra ở những nước có chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo như Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi, theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, tham nhũng là một hiện tượng phổ biến, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới. Trong đó, “phần lớn tham nhũng xảy ra ở các quốc gia có chế độ đa đảng, “tam quyền phân lập”. Đồng thời, việc Đảng lãnh đạo hoạt động kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay là tính tất yếu, khách quan dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn rõ ràng, đầy đủ. Bởi lẽ, nếu Đảng không kiểm soát được quyền lực thì sẽ dẫn đến hậu quả hết sức khôn lường, tình trạng “tha hóa quyền lực” và lạm dụng quyền lực sẽ là nguồn cơn của vấn đề tham nhũng. Nếu để tình trạng này xảy ra sẽ tạo ra một đội ngũ cán bộ, công chức yếu kém, làm mục rỗng hệ thống chính trị, về lâu dài nó sẽ đe dọa sự tồn vong của chế độ.

Trong những năm qua, công tác phòng chống tham nhũng của Đảng ta được thực hiện rất quyết tâm, mạnh mẽ để làm trong sạch Đảng ta. Điều này thể hiện rõ tại Nghị quyết Đại hội XIII: “Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng; “kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn”. Các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phòng, chống tham nhũng còn được đề cập trong các Văn kiện và được cụ thể hóa trong: Cương lĩnh, Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận… đây là cơ sở chính trị trong công tác phòng chống tham nhũng.

Điều này được thể hiện ngay trong đạo luật cơ bản của chúng ta. Cụ thể: Khoản 2, Điều 8 Hiến pháp 2013 đã nêu rõ: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải…kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”. Không những thế, Nhà nước thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng thành Luật, Nghị định, Thông tư… tạo thành hành lang pháp lý vững chắc và chế tài nghiêm khắc để “không thể tham nhũng”, cơ chế răn đe để “không giám tham nhũng” và cơ chế để “không cần tham nhũng”.

Đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định rằng: “Chúng ta cần phải kiên quyết đấu tranh phản bác luận điệu của các thế lực thù địch, chống đối cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, Đảng viên sai phạm là “đấu đá nội bộ”, “phe cánh”. Hơn nữa, việc tăng cường đấu tranh phòng chống tham nhũng cũng là cách để mỗi cán bộ, Đảng viên thêm vững tin vào Đảng, vào chế độ – một Đảng sinh ra không phải để làm quan phát tài, một chế độ luôn lấy sự phồn vinh của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. Công tác phòng, chống tham nhũng hiện nay là không có “vùng cấm”, không có “ngoại lệ”, không có “đặc quyền” đối với bất kỳ ai. Do đó, với quan điểm trên, luận điệu xuyên tạc: “Phòng chống tham nhũng là đấu đá nội bộ, tranh giành quyền lực”; “Đảng không thể đấu tranh phòng, chống tham nhũng”… là hoàn toàn vô căn cứ.

 Chúng ta khẳng định công tác phòng chống tham nhũng của Đảng ta là một tất yếu, khách quan khoa học và nhất định sẽ thành công trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhận thức được vấn đề này, mỗi cá nhân chúng ta cần nhận diện đúng những âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch. Ý thức trong việc giác ngộ, nâng cao nhận thức bản thân để biết phân biệt được đúng, sai; không cổ súy, lan truyền thông tin xấu gây hại cho Đảng và Nhà nước góp phần chung vào sự nghiệp đổi mới, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

 

BIỆN PHÁP PHÒNG, CHỐNG ÂM MƯU PHI CHÍNH TRỊ HÓA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG


          Phi chính trị hóa lực lượng vũ trang thực chất là nhằm tách công an, quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho quân đội, công an không còn mang bản chất của giai cấp công nhân, không còn là lực lượng vũ trang kiểu mới của giai cấp công nhân, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân nữa. Đây là thủ đoạn không mới của các thế lực thù địch, nhưng cực kỳ nghuy hiểm và ngày càng diễn biến phức tạp. Để làm thất bại âm mưu phi chính trị hóa lực lượng vũ trang chúng ta cần nhận biết những hành động cụ thể mà các thế lực thù địch đang tập trung thực hiện; có những biện pháp rõ ràng nhằm ngăn chặn, đẩy lùi và làm thất bại âm mưu đó.

          Để đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn phi chính trị hóa lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch hiện nay phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm.

          Một là, phải tăng cường mạnh mẽ hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và công an. Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội, công an là một nguyên tắc đã được Đảng ta khẳng định nhất quán trong các văn kiện của Đảng. Hiện nay, cần quan tâm xây dựng đảng trong quân đội và công an vững mạnh về mọi mặt theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt.

          Hai là, xây dựng lực lượng QĐND, CAND vững mạnh về mọi mặt theo mục tiêu cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đặc biệt chú trọng đấu tranh ngăn chặn, kiên quyết không để xảy ra tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quân đội, công an.

          Ba là, đẩy mạnh cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, vạch trần âm mưu, bản chất, sự phi lý trong quan điểm đòi phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, tách công an, quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng.

          Bốn là, lực lượng quân đội, công an phải làm tốt công tác nắm, nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình, âm mưu hoạt động của các thế lực thù địch đòi phi chính trị hóa lực lượng vũ trang để chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi cuộc đấu tranh này.

          Năm là, chú trọng chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, hậu phương công an để cán bộ, chiến sĩ vững vàng, yên tâm công tác, chiến đấu.

          Âm mưu phi chính trị hóa lực lượng vũ trang là một trong những thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Do đó, nhận biết và đấu tranh, phòng, chống mưu đồ đòi phi chính trị hóa lực lượng vũ trang là nhiệm vụ cấp thiết, quan trọng, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị, của lực lượng vũ trang nhân dân và mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an. Trong đó xây dựng quân đội, công an có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, chế độ, Nhà nước và nhân dân là vấn đề cốt lõi, đảm bảo luôn thực sự là lực lượng vũ trang trọng yếu của Đảng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao./.

 


ÂM MƯU PHI CHÍNH TRỊ HÓA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CỦA CÁC THẾ LỰC PHẢN ĐỘNG, THÙ ĐỊCH

 


          Phi chính trị hóa lực lượng vũ trang thực chất là nhằm tách công an, quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho quân đội, công an không còn mang bản chất của giai cấp công nhân, không còn là lực lượng vũ trang kiểu mới của giai cấp công nhân, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân nữa. Đây là thủ đoạn không mới của các thế lực thù địch, nhưng cực kỳ nghuy hiểm và ngày càng diễn biến phức tạp. Để làm thất bại âm mưu phi chính trị hóa lực lượng vũ trang chúng ta cần nhận biết những hành động cụ thể mà các thế lực thù địch đang tập trung thực hiện; có những biện pháp rõ ràng nhằm ngăn chặn, đẩy lùi và làm thất bại âm mưu đó.

          Để thực hiện mưu đồ phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, các thế lực thù địch thường tập trung phá hoại nền tảng tư tưởng cách mạng của lực lượng vũ trang bằng những luận cứ tưởng chừng như rất khách quan, khoa học. Tổ chức các hoạt động nhằm cổ súy cho luận điệu “lực lượng vũ trang phi giai cấp”; “quân đội chuyên nghiệp, quân đội nhà nghề”. Lợi dụng các sự kiện chính trị - xã hội, các vấn đề về kinh tế… để gây tâm lý hoang mang, dao động, mất phương hướng trong đội ngũ cán bộ, chiến sỹ của lực lượng vũ trang. Đặc biệt chúng tập trung phá hoại các nguyên tắc tổ chức cơ bản trong xây dựng quân đội, công an, xóa bỏ công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội và công an nhân dân Việt Nam. Cùng với đó, lợi dụng chiêu bài mở rộng dân chủ, chúng đưa ra yêu sách xây dựng "lực lượng vũ trang toàn dân", “trả quân đội, công an về cho Nhà nước”, thực hiện quân đội, công an là của toàn dân, sự can dự vào chính trị sẽ phá hoại tính chuyên nghiệp của quân đội và công an. Thậm chí các thế lực thù địch ngang nhiên bôi nhọ và xuyên tạc lịch sử, truyền bá lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền và các giái trị dân chủ phương Tây.

          Trong tình hình hiện nay, âm mưu phi chính trị hóa lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch càng diễn biến phức tạp, ẩn mình dưới mọi hình thức như là: Lợi dụng xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế để đẩy mạnh tuyên truyền các luận điệu đòi phi chính trị hóa lực lượng vũ trang. Lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ để thực hiện âm mưu phi chính trị hóa lực lượng công an, quân đội. Hoặc chúng đẩy mạnh sự liên kết ngày càng chặt chẽ, mức độ ngày càng sâu sắc và phạm vi ngày càng rộng giữa các đối tượng bên ngoài và bên trong.

          Âm mưu phi chính trị hóa lực lượng vũ trang là một trong những thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Do đó, nhận biết và đấu tranh, phòng, chống mưu đồ đòi phi chính trị hóa lực lượng vũ trang là nhiệm vụ cấp thiết, quan trọng, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị, của lực lượng vũ trang nhân dân và mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an. Trong đó xây dựng quân đội, công an có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, chế độ, Nhà nước và nhân dân là vấn đề cốt lõi, đảm bảo luôn thực sự là lực lượng vũ trang trọng yếu của Đảng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao./.

 

QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC PHẢN ĐỘNG, THÙ ĐỊCH VỀ “MỘT ĐẢNG LÃNH ĐẠO”

 

 

          Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, đó là nhận định không chỉ của Đảng, nhân dân ta mà còn là của bạn bè quốc tế. Tuy nhiên, hiện nay, các thế lực thù địch chống Việt Nam thường xuyên tuyên truyền luận điệu: “Ở quốc gia mà chỉ có một đảng duy nhất lãnh đạo như Việt Nam thì không có dân chủ, sẽ đưa đất nước, dân tộc đi vào ngõ cụt”. Trên mạng internet vẫn xuất hiện nhiều thông tin thù địch, trái chiều, các blog có nội dung xấu rêu rao tư tưởng dân chủ tư sản, bôi son, tô hồng về những thành tựu của các nước tư sản theo chế độ đa nguyên, đa đảng, hay trực tiếp nói xấu, bôi nhọ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta. Bản chất của hoạt động này là nhằm phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, kích động đa nguyên, đa đảng, từng bước chuyển hóa thể chế chính trị ở Việt Nam.

          Thực tiễn lịch sử cho thấy, quá trình ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu khách quan. Sự ra đời đó không chỉ là ý chí đơn thuần của các nhà hoạt động cách mạng mà là sản phẩm của lịch sử. Từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là đội tiên phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam, là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự nghiệp cách mạng nước ta đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân Việt Nam thực sự được làm chủ cuộc sống của mình, được sống trong “tự do, hạnh phúc”.

          Đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập là nét đặc trưng của thể chế chính trị tư sản trên thế giới hiện nay. Nói chung, ở các nước tư bản, về hình thức thì các đảng chính trị đều “tự do”, “bình đẳng” trong cuộc đấu tranh nghị trường và đều có khả năng trở thành đảng cầm quyền, nhưng trong thực tế thì chỉ có các đảng lớn, có thế lực, được sự hậu thuẫn của các tập đoàn tư bản độc quyền mới có khả năng chiến thắng. Thể chế đa đảng này cũng dễ khuyến khích các lực lượng đối lập vì lợi ích cục bộ chỉ biết phản đối tất cả những gì của đảng cầm quyền, bất chấp phải - trái, đúng - sai. Hệ quả là làm xuất hiện một nền chính trị vì quyền lực và một công nghệ đấu đá chính trị trên những lợi ích chính đáng của đông đảo cử tri. Ở nước ta, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa là quy luật hình thành, phát triển, là tôn chỉ mục đích hoạt động của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo, là người đại diện chân chính duy nhất cho lợi ích và nguyện vọng của nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh bảo vệ quyền sống, quyền tự do, dân chủ và hạnh phúc. Đó là các quyền sử dụng tư liệu sản xuất, có công ăn việc làm, quyền học tập và hưởng thụ văn hóa, quyền tham gia quản lý nhà nước, giám sát cán bộ, đảng viên, công chức và cơ quan nhà nước, quyền đóng góp ý kiến vào các chủ trương, chính sách, pháp luật, bày tỏ ý kiến về các hiện tượng tích cực và tiêu cực trong đời sống xã hội... Vì vậy, có ai đó nói “một quốc gia chỉ có một đảng duy nhất lãnh đạo như Việt Nam thì không có dân chủ” là không có căn cứ, thậm chí là phản khoa học, vì thực tế ở Việt Nam hiện nay đang chứng minh điều ngược lại.

          Để làm tốt công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai, trái thù địch chống phá Đảng trong thời gian tới cần tập trung:

          Một là, phải kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hoạt động phối hợp đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, trên cơ sở tuyệt đối trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng vào thực tiễn để xem xét, phân tích, đánh giá, vạch trần bản chất phản động, phản khoa học của những quan điểm sai trái, thù địch.

          Hai là, thường xuyên tích cực, chủ động, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng trong đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, thù địch. Coi trọng đề xuất xây dựng và thực hiện tốt cơ chế, quy chế phối hợp giữa công an với quân đội và các bộ, ban, ngành của Trung ương, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các địa phương để phát hiện kịp thời âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

          Ba là, thường xuyên coi trọng tổ chức xây dựng lực lượng nòng cốt, chuyên sâu trong đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch. Chú trọng đấu tranh trên các phương tiện thông tin đại chúng, xây dựng các blog, trang web tổ chức đấu tranh có hiệu quả.

          Bốn là, coi trọng phối hợp chặt chẽ trong công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn phục vụ hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước, không để các thế lực thù địch có kẽ hở tấn công; đồng thời, kiên quyết đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận, đập tan những quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề; về phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

          Việc nghiên cứu nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch phải được tiến hành thường xuyên, toàn diện, đồng bộ, chủ động, kịp thời, chính xác, nhất là những vấn đề nhạy cảm trên các lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, vấn đề biển Đông, âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng... cần có sự thông tin, trao đổi phối hợp thường xuyên của nhiều lực lượng chức năng.